Bài dịch: Giáo dục mầm non

Updated: Jan 1, 2019

Bài dịch "Giáo dục mầm non" được chuyển ngữ từ bài "Preschool Education" đăng trên trang Britannica

Choco House rất mong nhận được góp ý về bài dịch từ phụ huynh để nâng cao chất lượng nội dung.

Giáo dục mầm non (Preschool Education), giáo dục trong thời kì đầu của tuổi thơ, bắt đầu từ sơ sinh đến khi con trẻ bước vào tiểu học trong tầm tuổi 5,6, hoặc 7 (tùy thuộc ở mỗi nước). 


Hệ thống giáo dục mầm non khác biệt ở mỗi nước trên thế giới, cũng như tên gắn cho những tổ chức giáo dục trong thời kì này. "Infant school"  (Nhà trẻ) chăm sóc trẻ sơ sinh khi đang trong giai đoạn đầu tuổi thơ (khoảng 3 tháng cho đến 3 tuổi). Ở nước ngoài, những cụm như day care, day nursery, hay crèch được dùng cho các trường mẫu giáo ở các nước nói tiếng Pháp, Nga, Anh, Ba Lan, và Israel. Trong giao đoạn thứ hai của thời thơ ấu, cơ cấu tổ chức giáo dục khác xuất hiện, quen thuộc nhất là trường "maternal school" hay "escole maternelle", hoặc "nursery school", hay "kindergarten" (trường mẫu giáo). Trường mẫu giáo maternal school nhận trẻ từ 3 đến 4 hoặc 5 tuổi) trước khi con bước vào mẫu giáo lớn ở trường kindergarden (cho trẻ 4 đến 5 hoặc 6 tuổi), nhưng ở một vài nước như Italy, con sẽ học ở trường mẫu giáo maternal school rồi chuyển thẳng đến trường tiểu học. Ở Đức, cùng với trường mẫu giáo Kindergarten, còn có trường Schulkindergarten dành cho trẻ chưa sẵn sàng bước vào tiểu học. Ở Mỹ, trường mẫu giáo được coi là một phần của giáo dục tiểu học. 

Choco House - trường mầm non Montessori

Lịch sử


Tên gọi, giáo dục mầm non được áp dụng trong giáo dục ngày nay, ra đời bởi cha sứ Johann Friedrich Oberlin ở Waldersbach, người thành lập trường infant school (tạm dịch là nhà trẻ) đầu tiên để chăm sóc và dạy trẻ khi bố mẹ làm việc. Từ đó, nhiều nhà giáo dục mở nhà trẻ tại các vùng khác, từ Lippe Detmold, Berlin, Kaiserwerth, Paris. Ở Pháp, nhà trẻ "salles d'aile" từ tổ chức tư nhân trở thành tổ chức nhà nước vào năm 1833, và trở thành một phần của hệ thống giáo dục cả nước. Sau đó tên nhà trẻ chuyển thành écoles maternelles. 


Tưởng như tách biệt khỏi phong trào nhà trẻ ở Châu Âu, nhà cải cách người Scotland Robert Owen vào năm 1816 thành lập cộng đồng New Lanark, một tổ chức hình thành tính cách (an Institue for the Formation of Character). Tổ chức nhận khoảng 100 trẻ con của các công nhân trong nhà máy dệt vải, từ 18 tháng đến 10 tuổi, và có lớp riêng cho trẻ từ 2-5 tuổi, dành nửa thời gian học và nửa thởi gian tham gia hoạt động trò chơi. Sự thành công của trường New Lanark dẫn tới cột mốc thành lập trường mẫu giáo đầu tiên ở London vào năm 1818. Dẫn dắt bởi giám đốc của trường do Robert Owen thành lập, James Buchnana, trường tại London nhận trẻ từ 1 đến 6 tuổi. Buchanan mang tới phương pháp mà ông phát triển tại New Lanark. 


"Ông bắt đầu với vận động thể chất, bài tập tay, vỗ tay, và vận động đếm. Bảng tính và bài tập nói cũng được ông áp dụng trong phương pháp của mình. Ông dạy trẻ những giai điệu trong bài hát "Divine and Moral" để trẻ hát trên nền sáo của mình. Ông còn đưa ra những bài tập đơn giản như quan sát và miêu tả." Phương pháp của Buchanan được mô phỏng lại bởi nhà giáo dục khác, điển hình như nhà giáo người anh Samuel Wilderspin, người đã viết những chuyên khảo đầu tiên về giáo dục mầm non. 


Cha sứ Ferrante Aporti ở Ý đọc tác phẩm của Wilderspin và thành lập trường mẫu giáo đầu tiên ở Cremona vào năm 1829. Ông bắt đầu phát triển một chương trình kết hợp hài hòa nhằm phát triển đạo đức, trí tuệ, và giáo dục thể chất. Những hoạt động bằng tay, trong các độ tuổi, được đề xuất nhằm khơi dậy tính chính xác và suy nghĩ lý trí, thu hút con trẻ tương tác. Ngoài ra, trẻ quen làm quen với tính kỉ luật, sự phối hợp, và lòng mộ đạo. Với Friedrich Froebel, nhà sáng lập trường mầm non người Đức, người phát triển lý thuyết hệ thống giáo dục mầm non, thay vì coi giáo dục mầm non như một dạng trông trẻ hay hoạt động xã hội chuẩn bị trẻ cho cho quá trình trưởng thành, Frobel coi giáo dục mầm non là một giai đoạn đặc biệt để trẻ bộc lộ bản thân qua trò chơi.


Chơi là một quá trình khám phá và nhận biết, quá trình dạy cho trẻ tính đồng nhất và sự đa dạng của mọi vật trong tự nhiên. Nền tảng giáo dục tạo tiền đề cho tổ chức nghiên cứu giáo dục của Froebel tại Keihau (thành lập vào năm 1816), nhưng phải đến năm 1838 ở gần Bad Blankenburge, ông mới mở trường mẫu giáo đầu tiên, sau đó ông gọi trường là "Kindergarten", lấy từ "garden for children" (khu vườn cho trẻ). Ở đó ông phát triển một bộ những khối hình và gọi chúng là "gifts" (món quà) cùng một loạt bài tập và hoạt động, như gập, cắt, và kết lại để tạo khối hình thật và sống động cho trẻ tương tác. Froebel tin rằng trẻ học tốt nhất không phải qua bài giảng nhưng bằng việc chơi và bắt chước, ông gọi đó là hoạt động độc lập "self-activity". Trong 25 năm kể từ Froebel qua đời năm 1852, trường mầm non "kindergartens" được thành lập ở thành phố lớn ở Áo, Bỉ, Canada, Đức, Anh, Hungary, Nhật, Hà Lanh, Thụy Sĩ, và Mỹ. 


Vào năm 1892 tại Ý, chị em nhà Agazzi, Rosa và Carolina, đã bắt tay phát triển một trường kết hợp phương pháp của Aporti và Froebel. Trường "Scuola Materna" (Italian maternal school) ra đời. Tại trường, trẻ được động viên trở thành người cộng tác chủ động tìm kiếm công cụ giáo dục (vật dụng từ đời sống) cũng như các dụng cụ trong phương pháp Froebel để khám phá. 


Tương tự như những nhà giáo dục trước đó quan tâm đến việc nuôi dưỡng và phát huy định hướng tự nhiên của con trẻ một cách an toàn và hữu ích, Maria Montessori, một nhân vật quan trọng trong giáo dục mầm non đã bắt đầu nghiên cứu về vấn đề giáo dục trẻ kém thông minh và khó hòa nhập văn hóa. Vào năm 1899, khi bà Maria Montessori trở thành hiệu trưởng của trường Orthophrenic ở Rome. Bà đã thành công trong việc áp dụng phương pháp của mình với trẻ khuyết tật trí tuệ, sau đó bà nhận thấy phương pháp của bà sẽ giúp ích cho cả những trẻ em bình thường. Vì vậy, vào năm 1907, bà Maria Montessori nhận chăm sóc 60 trẻ, từ 3 đến 6 tuổi, từ khu ổ chuột San Lorenzo ở Rome và thành lập trường mẫu giáo đầu tiên của nhà, được gọi là Casa dei Bambini (Children's House (nhà của trẻ)).


Tính cá nhân và chủ động điều hướng là đặc điểm nổi bật  trong triết lý của Montessori, vì vậy vai trò của giáo viên đẩy về phía sau. Giáo viên nhận nhiệm vụ chỉ dẫn cách sử dụng giáo cụ, những bộ công cụ giáo dục được bà Maria tự phát triển, ví dụ như khung thắt dây, gậy đếm số để con trẻ làm quen với khái niệm số trong toán học, bộ xếp hình bản đồ, và bảng chữ nhám để trẻ lần theo nét chữ bằng ngón tay của mình. Hơn nữa, dù trẻ thường tham gia hoạt động một mình, hoạt động theo nhóm và hoạt động xã hội vẫn được chú trọng ví dụ như hoạt động thể chất theo nhóm, trò chơi, bài tập tôn giáo, cách ứng xử xã hội được dạy trong phục vụ bữa ăn, ngồi đợi trên bàn, và các hoạt động tương tự. Trẻ học đọc, viết, đếm, và bộc lộ bản thân thông qua hoạt động nghệ thuật.


Phương pháp Montessori cho con tính độc lập và chủ động

Trong lúc ấy, tại Bỉ, bác sĩ Ovide Decroly, dẫn đầu trong giáo dục trẻ nhỏ từ nền móng nghiên cứu tâm lý học những trẻ khác thường và xuất chúng. Năm 1907, ông Ovide Decroly thành lập trường École de l'Ermitage (School of Hermitage) ở gần Brussels. Không giống trẻ theo học phương pháp Montessori, trẻ học tại trường của Decroly làm việc theo nhóm và làm việc trên những đồ vật thực trong cuộc sống hàng ngày giống với phương pháp Agazzis. Hệ thống giáo dục của ông dựa trên ba quá trình: quan sát, bộc lộ (bằng lời nói,viết, tay, và nghệ thuật), và sự liên tưởng không gian và thời gian. Ông nhận thấy sự cần thiết các nhu cầu của trẻ đi từ thức ăn, được che chở khỏi mối đe đọa, khả năng chịu đựng khỏi thất vọng trong cuộc sống, sự nghiệp, và vai trò của việc chơi, kĩ năng tự đánh giá, và tính kỉ luật. 


Khi đó ở Anh chứng kiến hai người tiên phong cải thiện sức khỏe và môi trường cho trẻ, đó là Grace Owen và Margaret McMilan. Cả hai đã thấy trường mẫu giáo là nơi nâng niu sức khỏe và phát triển  thể chất (điều tiên quyết cho mọi sự phát triển) và là một nơi giống như mái ấm của trẻ. Owen muốn mọi khu vực dân cư đều có trường mẫu giáo, nơi trẻ ở nhiều độ tuổi khác nhau tạo thành nhóm giống như gia đình lớn, đẩy mạnh hoạt động trò chơi hỗ trợ quá trình hòa nhập xã hội. McMillan phác thảo khóa học ba năm để đào tạo giáo viên mầm non, khẳng định rằng giáo viên có trình độ sẽ theo sát trẻ từ ba đến sáu tuổi. Trung tâm đào tạo tại Manchester (của Ownen), tại Deptfored (dưới sự quản lý của McMillan), và tại London đào tạo giáo viên cho nước Anh cùng với trường mầm non tại Mỹ. 


Đầu thế kỷ 20 là giai đoạn khởi đầu của nuôi dạy "tập thể" ("collective" upbringing). Người Palestine mở trường "kibbutzim" bao gồm những nhà riêng biệt cho trẻ để các bà mẹ có thể làm việc trong cộng đồng. Hệ thống trường dần phát triển, những trẻ ở trường "kibbutz" từ khi sinh ra đến một tuổi ở tại nhà trẻ (infant house), được chăm sóc bởi người trông trẻ (metapelet). Mỗi người trông trẻ sẽ chịu trách nhiệm bốn hoặc năm trẻ. Trong quá trình nuôi con bằng sữa mẹ, các bà mẹ sẽ chăm sóc con tại nhà cho trẻ sơ sinh (infant house). Nhà chăm sóc bé (toddler house) bao gồm tám bé từ một đến ba hoặc bốn tuổi, nhấn mạnh trọng tâm tương tác xã hội. Tất cả trẻ được về nhà hàng ngày trong vài tiếng. Ở giai đoạn tiếp theo, mẫu giáo, những trẻ từ 3 đến 4 hoặc 7 tuổi được cô giáo chăm sóc cùng với ba trợ lý (metapelet). Mục tiêu của giai đoạn này nhằm giúp con sẵn sàn bước vào lớp một. 


 Một vài ví dụ giáo dục "tập thể" cũng xuất hiện ở Nga, nơi mà nhà trẻ và trường mẫu giáo (détkiye sady và yasli) đi vào hoạt động vào năm 1919, phần lớn nhờ vào công thuyết phục của N.K.Krupskaya (vợ của Vladimir I.Lenin), người coi giáo dục mầm non là bước khởi đầu định hình công dân Xô Viết. Ngày nay, trẻ được tự nguyện theo học nhà trẻ từ hai tháng đến ba tuổi, những nhà trẻ hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Y tế. Trường mẫu giáo, được điều hành bởi Bộ Giáo dục, chấp nhận trẻ từ ba đến bảy tuổi. Mọi tài liệu giáo dục chủ yếu là giáo dục đạo đức. Quá trình hòa nhập xã hội, tôn trọng chính quyền, và việc đề cao cộng đồng hơn cá nhân đều được nhấn mạnh. Tính kỉ luật và tự lập cũng là mục tiêu giáo dục chính. 


(Còn Phần 2 ...) 

Nguồn: Britannica

0 comments