Giáo dục Nhật Bản có gì?

Updated: Feb 12, 2019

Bài dịch được chuyển ngữ từ bài viết tiếng Anh "How a Japanese elementary school prepared my child for college in the U.S" trên báo Washington Post của Mỹ.


Trường tiểu học ở Nhật đã cho con tôi kĩ năng để vào đại học tại Mỹ


Khi con tôi học tiểu học ở Tokyo, bé đã phải nhổ cỏ ở sân trường, tự nấu bữa ăn, và tập bơi trên biển hơn 1 tiếng. Tôi cũng đến từ Nhật Bản và học tiểu học ở đây, nhưng có lẽ vì nhiều năm sinh sống tại nước ngoài tôi trở nên dễ dãi hơn nhiều. Đến khi biết được các hoạt động của con tại trường, tôi mới hiểu yêu thương "cứng rắn" của bậc cha mẹ là như thế nào.

Giờ đây lúc tôi nghe các cha mẹ Mỹ lo lắng khi con họ bước vào ngưỡng cửa đại học, tôi mới hiểu phương pháp giáo dục tiểu học ở Nhật đã chuẩn bị rất tốt cho bước ngoặt này của con tôi. Với tư cách là một người mẹ của tân sinh viên, tôi cũng đối diện với nhiều mối lo như những bậc cha mẹ khác, giả dụ như con tôi sẽ bắt kịp với trường lớp ra sao, và con có thể tham gia vào đội bóng như thế nào. Nhưng cũng có rất nhiều thứ tôi không phải bận tâm ví như việc có thêm bạn bè, sống độc lập, và kiên cường khi đối mặt với thử thách.

Đó là bởi vì trường tiểu học Nhật Bản đã đầu tư thời gian khoá biểu vào nuôi dưỡng kĩ năng sống (được gọi là seikasuryoku trong tiếng Nhật) tương đương với thời gian dành để nâng cao khả năng học thuật. Cách tiếp cận nhất quán của Nhật trong giáo dục trẻ kết hợp giữa việc nuôi dạy học giả tương lai và một công dân trách nhiệm trong xã hội. Đó chính là lý do vì sao những người hâm mộ bóng đá dọn sân khi trận bóng World Cup kết thúc.

Và đây là cách trường tiểu học ở Tokyo đã xây dựng những kĩ năng sống cho con tôi bước vào đại học ở Mỹ:

1. Là một phần của cộng đồng. Một trong những từ khoá ở trường của con là "rentai," có nghĩa là sự đồng nhất. Học sinh được nhận biết như một phần của nhóm, lớp, một tập hợp 4 học sinh cùng giải quyết khó khăn trong học tập. "Aisatsu," lễ phép chào hỏi, được nhấn mạnh như một cách tạo tiền đề cho mối quan hệ. Chú trọng vào việc nhóm thúc đẩy trẻ chấp nhận người khác và dạy chúng cách nhận biết cách mối quan hệ xã hội cũng như nghĩ về việc giữ mối liên kết với nhóm. Khi còn nhỏ, trẻ được đặt trong nhóm xã hội và vì thế sẽ dễ dàng thích nghi với môi trường xã hội ở đại học.

2. Làm quen với thành phố mới. Tất cả trẻ ở Nhật Bản tự mình tới trường. Con trai tôi học tại một trường tư cách nhà 90 phút đi tàu. Khi lên 6, con tự bắt 2 trạm tàu và xe buýt trong mạng lưới phương tiện lớn nhất thế giới tại Nhật. Cha mẹ không được phép đi cùng con tới trường sau 3 tuần học đầu tiên khi vào lớp 1. Thi thoảng con ngủ gật và lỡ trạm dừng hoặc chuyến tàu bị hoãn. Nhưng những sai sót đãng trí lại biến thành cơ hội phiêu lưu của con, như việc tìm người bán vé để chỉ dẫn hay thử gọi điện thoại công cộng. Vì thế con tự biết cách đi lại và tìm điểm đến tại khuôn viên rộng lớn của trường đại học ở Mỹ.

3. Cách sắp xếp và quản lý thời gian. Trẻ ở Nhật theo sát bài tập của mình bằng cách viết vào sổ tập hợp các bài tập được giao trên bảng và ghi nhớ danh sách việc cần làm trong đầu. Học sinh ở đây tự ghi nhớ dụng cụ học tập hay sách vở khi đến trường. Chúng tôi giữ dụng cụ học tập trên chiếc bàn cafe: vở, tập kế hoạch, đồng phục thể dục. Mỗi tối khi con trai tôi tự sắp đồ để đi học. Nếu cậu bé quên thứ gì đó, cô giáo sẽ nhắc con tự kiểm điểm sự bất cẩn có thể ảnh hưởng đến người khác. Vì thế con sẽ học được cách sắp xếp thời gian và bài tập tại trường.

4. Giải quyết vấn đề. Trường học ở Nhật có thời gian học phối hợp được thiết kế nhằm tăng khả năng giải quyết vấn đề. Trường tiểu học của con tôi dùng thời gian này để con học cách trồng củ cải, rau muống, và trồng lúa. Học sinh ở đây đến các cửa hàng địa phương và học về cách quản lý ngân sách. Khi vào lớp 6, trẻ tự lựa chọn dự án cả năm. (Con tôi chọn nghiên cứu về tấn công cảm tử trong thế chiến thứ II, và tôi dẫn bé đi tới một căn cứ chiến tranh để nghiên cứu thực địa. Vì vậy, con tôi sẽ biết cách tìm giải pháp sáng tạo khi gặp khó khăn.

5. Dọn dẹp. Học sinh ở Nhật tự mình dọn dẹp lớp học. Một trong những vật dụng đầu tiên tôi chuẩn bị cho con trai mình là một mảnh vải với mũi thêu hình chữ X dùng khá bền, chiếc khăn được treo một góc bàn học của cậu bé để dọn dẹp lớp. Khi trở lại sau kì nghỉ, bọn trẻ đeo găng tay đến trường để nhổ cỏ cùng với chiếc khăn tay lau mồ hôi khi dọn dẹp. Vì vậy, tôi yên tâm rằng con tôi có thể giữ nơi ở gọn gàng. 

Bạn nhỏ thực hành chuẩn bị nguyên liệu tại nhà Choco

6. Giờ ăn. Học sinh ở Nhật sẽ phải ăn hết những món trong thực đơn trừ trường hợp chúng mắc phải chứng dị ứng. Con trai tôi học cách nấu ăn ở trường, cách thái, hầm củ cải mà chúng tự mình trồng, cũng như việc thực hành gọt táo với toàn bộ phần vỏ theo một dải dài duy nhất. Khi lên lớp 6, con tôi tự mình nấu một bữa hoàn chỉnh khi mặc tạp dề mà con tự mình thêu ở lớp. Vì vậy, con có thể dễ thích ứng với món ăn trong thực đơn tại trường hoặc tự mình nấu ăn. 


7. Giải quyết mâu thuẫn. Khi vào lớp 1, con trai kể với tôi rằng bé chạy sau chiếc cột khi di chuyển giữa các lớp để tránh những cậu học sinh to lớn thường bắt nạt bé. Bé cũng từng va chạm với một bạn khác, lăn lộn trên sàn lớp học. Cô giáo không can thiệp trừ khi có tổn thương thể chất và tâm lý xảy ra. Tôn chỉ của trường là để trẻ tự giải quyết vấn đề của mình. Từ đây, con tôi tự biết cách xử lý bất đồng và tranh cãi với bạn cùng lớp. 


8. Sức chịu đựng. Rất ít trường đại học đòi hỏi bài kiểm tra bơi, nhưng nếu con tôi gặp phải tình huống bắt buộc, con sẽ luôn sẵn sàng. Trường tiểu học của con bắt buộc 1 hoặc 2 km bơi ở biển trước khi tốt nghiệp. Đó là thành tựu với những đứa trẻ thành phố khi có thể bơi ếch ở biển với loài sứa trong khi môi phồng rộp dưới ánh nắng chói chang. Vì thế, con có sự bền bỉ để vượt qua thử thách khó khăn.  


9. Thất bại. Không gì dễ dàng để vượt qua và đạt được những kĩ năng trên (trừ kĩ năng nấu nướng bởi cậu bé rất yêu các món ăn). Con tôi đã chịu đựng nhiều thất vọng. Khi mới vào trường, con bị gọi là "tây" với nguồn gốc lai của mình (Cậu bé được nhận nuôi từ Kazakhstan) . Những bài kiểm tra kém được đăng trên tường thông báo, chẳng có mảnh ruy băng nào được trao tặng để động viên nỗ lực của con. Cậu bé học được rằng sự lựa chọn duy nhất là chấp nhận điểm yếu của mình và đặt mục tiêu cao hơn. Cũng từ đây, con có được sự kiên cường để vượt qua thử thách. 


Tất nhiên là còn rất nhiều điều tôi không thể đưa vào danh sách này, giả dụ như sự đón nhận. Nhật Bản là một xã hội cách biệt và thiếu sự đa dạng. Con tôi lựa chọn đi học tại một trường đại học Mỹ cũng bởi vì cơ hội được tiếp cận với sinh viên khắp trên thế giới. Sẽ có những thử thách không đoán trước chờ cậu, nhưng nhờ vào trường tiểu học ở Nhật, con tôi sẵn sàng tiếp nhận thử thách đó. 


Nguồn: How a Japanese elementary school prepared my child for college in the U.S

0 comments