Tài liệu dịch: Phong trào Giáo dục Tiến bộ thế kỷ 20

Updated: Jan 14, 2019

Bài dịch được chuyển ngữ từ đoạn trích thuộc chuyên đề Education (Giáo dục) trên trang bách khoa toàn thư Britannica.


Nền tảng mới


Ba mối quan tâm định hướng giai đoạn phát triển giáo dục của thế kỉ 20 là con trẻ, khoa học, và xã hội. Cụ thể, những nền tảng giáo dục đặt ra bởi phong trào giáo dục tiến bộ đặt trẻ làm trọng tâm, đề cao giáo dục khoa học, và xây dựng xã hội.


Giáo dục tiến bộ


Giáo dục tiến bộ là một phần của cải cách xã hội và chính trị trong phong trào “Progressive” (Tiến bộ) nở rộ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Giáo dục tiểu học đã lan rộng toàn phương Tây giải quyết vấn đề mù chữ và nâng cao hiểu biết xã hội. Dù vậy, giáo dục tại trường học chưa thể bắt kịp với những thay đổi lớn trong xã hội.


Bất mãn với chương trình giáo dục trong trường học dẫn đến cải cách thực hành hình mẫu trường học thử nghiệm vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trường thực nghiệm trọng điểm ở Mỹ cho đến năm 1914, phải kể đến trường thực nghiệm (laboratory school) thuộc trường đại học Chicago (University of Chicago Laboratory School), thành lập vào năm 1986 và được lãnh đạo bởi John Dewey; cùng với trường Francie W.Parker, thành lập vào năm 1901 ở Chicago; trường Organic Education ở Fairhope, Ala xây dựng bởi Marietta Johnson vào năm 1907, trường tiểu học thực nghiệm của đại học Missouri (Columbia) thành lập vào 1904 bởi Junius L.Meriam. Mục tiêu chung của các trường kể trên nhằm xóa bỏ phương pháp cứng nhắc trong chương trình giáo dục truyền thống và đổi mới bộ môn trong hệ thống.


Ba đặc tính của các trường thành lập trong giai đoạn này là: mỗi trường áp dụng một chương trình hoạt động, mỗi trường vận hành dựa trên cơ sở giáo dục không đến từ bên ngoài mà xuất phát từ chính khả năng của trẻ; mỗi trường tin vào khái niệm dân chủ của cá nhân.


Bài viết và bài giảng của Dewey ảnh hưởng các nhà giáo trên khắp thế giới, đặt nền móng triết học định hướng cả bộ máy giáo dục, đặc biệt là tiểu học. Lý thuyết của ông được giải thích trong “School and Society” (1899), “The Child and the Curriculum” (1902); và “Democracy and Education” (1916). Với Dewey, triết học và giáo dục phục vụ lẫn nhau. Giáo dục trở thành phòng thí nghiệm của triết học. Xã hội cần được trẻ soi chiếu qua những hoạt động hàng ngày tại lớp học và mang đến mô hình xã hội thu nhỏ. Giáo dục không phải là mục tiêu cuối cùng mà là yếu tố luôn vận động, “mô hình trải nghiệm tích lũy” nhắm hướng tới hiệu quả xã hội. Giáo dục là cuộc sống, không chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống sau này.

Sự ảnh hưởng của giáo dục tiến bộ dần được nâng cao vào đầu thập kỉ thế kỉ 20. Dù vậy chỉ có một vài trường giáo dục tiến bộ được thành lập, bao gồm Play School và Walden School ở New York, Shady Hill School ở Cambridge, Mass, trường tiểu học thuộc đại học Iowa, trường Oak Lane Day ở Philadelphia. Trường Helen Parkhurst ở Delton Plan, biết đến vào năm 1920 ở Dalton, Mass, dẫn đầu trong việc để trẻ tự điều hướng việc học trong các chủ đề. Trường Carleton Washburne ở Winnetka Plan, thành lập vào 1919 tại Winnetka, Ill., coi việc học là quá trình liên tiếp quyết định bởi mục tiêu và khả năng của trẻ. Trường Gary Plan, phát triển vào 1908 ở Gary bởi William Wirt, thành lập trường toàn diện đón nhận việc làm, học, và chơi vào chương trình học cho các lớp toàn thời gian.


Sự phát triển của chương trình giáo dục tiến bộ lan rộng nhanh chóng từ năm 1920 và không còn bó hẹp trong phạm vi một đất nước nào. Ở Mỹ, tổ chức Giáo dục tiến bộ (Progressive Education Association (PEA)) được thành lập vào 1919. Tổ chức PEA đẩy mạnh hoạt động thúc đẩy giáo dục tiến bộ cho đến khi tổ chức dừng hoạt động vào năm 1955. Vào năm 1921, tổ chức giáo dục tiến bộ mới được thành lập có tên New Education Fellowship, sau này được đổi tên thành World Education Fellowship.


Những khái niệm của giáo dục tiến bộ ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục khắp nơi trên thế giới. Một vài những ảnh hưởng có thể thấy trong chương trình hoạt động, lớp học viết sáng tạo và đọc, những dự án gắn liền với cộng đồng, không gian phòng học linh động, các hoạt động trò chơi, những khám phá phương pháp học, và hệ thống tự đánh giá.

Giáo dục đặt trẻ làm trọng tâm


Những người ủng hộ phương pháp đặt trẻ làm trọng tâm giáo dục cho rằng trường học là nơi thỏa mãn mong muốn của trẻ chứ không phải là nơi trẻ đáp ứng yêu cầu của trường. Những luồng suy nghĩ này, đầu tiên xuất hiện ở Châu Âu, đặc biệt trong cuốn “Émile” của Jean-Jacques Rousseau (1762) và “How Gertrude Teaches Her Children” (Gertrude đã dạy trẻ như thế nào?) của Johann Heinrich Pestalozzi, được áp dụng vào hệ thống của Mỹ bởi nhà giáo dục tiên phong như Francis W.Parker. Dưới sự quản lý của Parker vào năm 1875 tại Quincy, Mass, ông kịch liệt chỉ trích phương pháp truyền thống cứng nhắc và nhấn mạnh chất lượng giảng dạy trong hoạt động, sức sáng tạo bộc lộ bản thân, học hỏi, thấu hiểu cá nhân, và phát triển tính cách.


Một cách tiếp cận khác với phương pháp giáo dục đặt trẻ làm trọng tâm ra đời từ nghiên cứu và mối quan tâm tới trẻ chậm phát triển về thể chất, trí tuệ. Giáo viên tự sáng tạo phương pháp của riêng mình để đáp ứng nhu cầu của trẻ, bởi những trường học bình thường thường bỏ qua điều này. Khi những phương pháp này trở nên thành công với trẻ kém phát triển, câu hỏi đặt ra rằng phương pháp có thể cho kết quả tốt hơn khi áp dụng cho trẻ bình thường. Trong thập kỉ đầu tiên của thế kỷ 20, nhà giáo Maria Montessori ở Rome và Ovide Decroly ở Brussels, Bỉ đã thành công trong việc ứng dụng sáng tạo giáo dục ở trường học học sinh nam và nữ.

Giáo dục Montessori đặt trẻ làm trọng tâm tại Choco House

Phương pháp Montessori dựa trên mong muốn con trẻ được tự lập và “thoát ly” khỏi sự quản lý của bố mẹ và giáo viên. Theo Montessori, con trẻ là những "nạn nhân bất hạnh" khi bị kìm hãm bởi người lớn, luôn bị gò ép để kiềm chế khỏi nhu cầu vốn có của mình. Bước đầu đến với cải cách giáo dục hướng tới giáo viên: nâng cao nhận thức, tháo bỏ suy nghĩ giáo viên ở vị trí cao hơn, thay đổi thái độ và vai trò đối với trẻ. Bước tiếp theo là tạo ra một môi trường mà trong đó trẻ có cơ hội tự điều khiển cuộc sống của riêng mình. Trong phương pháp Montessori, các giác quan được dạy riêng biệt bằng các hoạt động thiết kế riêng để khơi dậy hứng thú của trẻ trong các giai đoạn phát triển của trí tuệ. Cũng bằng công cụ tương tự, trẻ hoàn thiện kĩ năng thực hành cuộc sống và thành thạo kiến thức toán học và ngữ pháp.


Phương pháp của Decroly là hệ thống các hoạt động dựa trên sự yêu thích của trẻ, các trò chơi giáo dục. Đặc điểm chính là lớp học – hội thảo (workshop – classroom), nơi mà trẻ có tự do làm việc của mình. Đằng sau các hoạt động phức tạp là hệ thống hoạt động sắp xếp và thiết kế dựa trên những phân tích nhu cầu của trẻ. Nguyên tắc đề cao sự toàn diện hơn là nhấn mạnh vào khả năng đọc, viết, đếm, và quan tâm vốn là trọng tâm để giáo dục trẻ. Phương pháp Montessori và Decroly được đón nhận toàn thế giới và có sức ảnh hưởng lớn tới nhận thức và các phương pháp áp dụng giáo dục trẻ.


Nguyên tắc của Pestalozzian khuyến khích đưa âm nhạc vào chương trình giáo dục mầm non. Nghiên cứu cho thấy âm nhạc tác động tới sự phát triển của trẻ, đặc biệt trong vận động, kiểm soát cơn nóng giận, kĩ năng giao tiếp và lắng nghe. Bốn phương pháp dạy âm nhạc cho trẻ nhỏ phổ biến nhất được phát triển bởi Émile Jaques-Dalcroze, Carl Orff, và Zoltán Kodály, cùng với cách tiếp cận âm nhạc toàn diện (Comprehensive Musicianship). Phương pháp Dalcroze nhấn mạnh vận động; Orff đề cao hoạt động biểu diễn kịch, Kodaly hướng tới trò chơi hát, và Comprehensive Musicianship (tài năng âm nhạc toàn diện) chú trọng tìm tòi khám phá. Một phương pháp nổi tiếng khác phát triển bởi nghệ sĩ violin Shinichi Suzuki, dựa trên lý thuyết trẻ học nhạc giống như cách trẻ học ngôn ngữ đầu tiên.


(Còn nữa…)


Nguồn: Britannica

0 comments