Tài liệu dịch: Phong trào Giáo dục Tiến bộ thế kỷ 20 (P2)

Updated: Jan 22, 2019

Bài dịch được chuyển ngữ từ đoạn trích thuộc chuyên đề Education (Giáo dục) trên trang bách khoa toàn thư Britannica.


Giáo dục khoa học hiện thực 


Phong trào giáo dục khoa học hiện thực nổi lên từ năm 1900 khi Edouard Claparède, tiến sĩ ở phòng nghiên cứu tâm lý của Đại học Geneva, bắt đầu nghiên cứu về trẻ kém phát triển ở Geneva từ đề xuất của một người phụ nữ trông trẻ. Kinh nghiệm khi làm việc với trẻ kém phát triển giúp ông phát hiện những sai sót trong phương pháp giáo dục của trường học. Ông nhận thấy trường học quan tâm đến "đôi chân" của bọn trẻ hơn là trí tuệ của chúng. Những đôi giày của trẻ thường có kích cỡ và hình dạng để vừa với đôi chân của trẻ. Nhưng làm thế nào để đo lường được các trường học? Claparède cho rằng định luật tâm lý cần được áp dụng để giáo dục thích ứng với từng trẻ. Điều này được ông trình bày chi tiết trong cuốn "Psychologie de l'enfant et pédagogie experimentale" (1905; Experimental Pedagody and the Psychology of the Child). Claparède dẫn đầu trong việc phát triển học viện J.-J Rousseau ở Geneva, trường khoa học giáo dục thu hút học sinh từ khắp thế giới. 


Những nhà lý luận như Claparède mong muốn xây dựng nền tảng khoa học cho giáo dục, mục tiêu mà sau đó được nhà tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget tiếp nhận, ông nghiên cứu triết học và tâm lý học để phát triển trí tuệ ở trẻ nhỏ. Dựa trên quan sát, Piaget cho rằng sự phát triển trí tuệ có 4 giai đoạn chính và dù tính chất giai đoạn không thay đổi, độ tuổi trẻ trải qua các giai đoạn thay đổi ở các nền văn hóa khác nhau. 


Giai đoạn đầu tiên khi sơ sinh, trước lúc trẻ biết nói, biết phép tính cộng và trừ, nhận biết các tập hợp, vòng, hệ thống, và nhóm. Khi đạt độ tuổi 2 hoặc 3, trẻ nắm bắt hết những điều cơ bản. Trẻ phát triển trí tuệ vận động ở một mức nhất định - chúng có thể suy nghĩ với những ngón tay, đôi tay, và cơ thể. Hỗ trợ bởi ngôn ngữ, tư duy trừu tượng dần phát triển ở giai đoạn thứ 2. Đến khi 7 hoặc 8 tuổi, trẻ vẫn chưa có tư duy người lớn, nắm những khái niệm như quan hệ nguyên nhân và kết quả. 


Giai đoạn thứ 3 là vận hành cụ thể. Trẻ bắt đầu nhận biết biểu tượng và khái niệm trừu tượng như "trách nhiệm." Nhưng trẻ chỉ thao tác với sự có mặt của đồ vật cụ thể. Tư duy trừu tượng vẫn tương đối khó trong giai đoạn này. Giảng dạy trong giai đoạn này cần cụ thể và chủ động, nếu chỉ dạy qua hướng dẫn bằng lời không đủ cho trẻ. Chỉ khi hơn 12 tuổi, giai đoạn đầu của thanh thiếu niên, trẻ phát triển khả năng sử dụng tư duy trừu tượng, đó cũng là lúc giảng dạy bằng lời có thể được áp dụng. 


Trẻ học với giáo cụ trực quan trong phương pháp Montessori

Sự phát triển của trẻ, đặc biệt là phát triển cảm xúc và tương tác xã hội, trở thành đề tài được nhà giáo quan tâm. Họ chỉ ra sai sót khi cho rằng nỗ lực kích thích trí tuệ ở trẻ nhỏ tương tự với người lớn. Nhà triết học người Anh Alfred North Whitehead, trong học thuyết "Cycle of Interests" (Chu kỳ của sở thích), cùng lối tư tưởng tương tự với các nhà cải cách chỉ ra rằng sự lãng mạn, tính chính xác, sự khát quát là những giai đoạn phát triển của trí tuệ. 

"Giáo dục cần kết hợp chu kỳ tái diễn này. Mỗi bài học là một vòng xoáy ốc trong chuỗi chu kỳ". 

Whitehead cho rằng phương pháp giáo dục cần được đánh giá dựa trên khả năng kích thích trẻ tư duy. Từ khi bắt đầu đi học, trẻ cần trải nghiệm niềm vui khám phá. 


Giáo dục xây dựng xã hội 


Giáo dục xây dựng xã hội dựa trên lý thuyết rằng xã hội được tái xây dựng thông qua quản lý chặt chẽ giáo dục. Mục tiêu để khiến xã hội tuân thủ theo lý tưởng của tổ chức chính trị hoặc chính phủ để tạo ra một xã hội mong muốn thông qua giáo dục. 


Nửa đầu thế kỷ 20 là giai đoạn giáo dục xã hội chủ nghĩa trở thành phương pháp chính trong xây dựng xã hội trên thế giới. Xuất phát từ triết lý của Karl Marx và Liên Xô cũ, phương pháp tiếp cận lượng lớn giới trẻ thế giới. Vào năm 1950, lý tưởng áp dụng khoa học trong lĩnh vực kinh tế (polytechnization) nhận được nhiều sự quan tâm. Con người, không chỉ là loài "Homo sapiens" nhưng còn là "Homo faber", những người kiến tạo và xây dựng. Đạt được trí tuệ, đạo đức, và lòng tin bằng việc ra nhập hê thống xã hội từ đó góp phần vào nỗ lực sản xuất vật liệu, sản phẩm nghệ thuật, tôn giáo và thành tích. Trường học cần chuẩn bị cho học sinh để thực hiện những hoạt động năng suất đó, ví dụ như việc học và chia sẻ công việc ở cánh đồng, trang trại, và nhà máy. 


Một phong trào giáo dục xây dựng xã hội xuất hiện ở tổ hợp trang trại (kibbutzim) ở Israel. Tính chất nổi bật của phương pháp giáo dục này nằm ở việc bố mẹ từ bỏ nuôi dưỡng và dạy con, thay vào đó, nhà giáo sẽ chịu trách nhiệm con của họ ngay từ khi chúng mới sinh. Phương pháp kibbutzim được phát triển với lý do thực tiễn và kinh tế, trong đó có: (1) tạo bình đẳng giới tính, (2) giáo dục để giữ gìn truyền thống lối sống kibbutz, (3) giáo dục tập chung khoa học hơn giáo dục tại nhà khi trẻ được nuôi dưỡng và học tập cùng chuyên gia như ý tá, cô giáo mầm nòn, và nhà giáo trong không gian không có áp đặt từ gia đình và mối quan hệ, (4) giáo dục tập chung dân chủ hơn phương pháp giáo dục truyền thống và giữ tinh thần hợp tác chung sống. 


Nguồn: Britannica

0 comments

Địa chỉ: P01-03, Khu Văn Phòng Tầng 2, T6, Khu Đô Thị Times City, 458 Minh Khai, HN

 Điện thoại: 099 399 6456 (Hotline)

©2018 by Choco House

  • Facebook - White Circle
  • YouTube - White Circle
This site was designed with the
.com
website builder. Create your website today.
Start Now