Tài liệu Montessori: Triết học vận động của Montessori (P1)

Updated: Dec 23, 2018

Bài dịch "Triết học vận động của Montessori" được chuyển ngữ từ (Montessori's Philosophy of Movement) đăng trên tạp chí khoa học ứng dụng "Applied and social sciences magazines".

Bài viết được đăng trên Encyclopedia.com.

Choco House rất mong nhận được góp ý về bài dịch từ phụ huynh để nâng cao chất lượng bài viết.

Đoạn trích


Bài viết nhằm giải thích triết lý vận động của phương pháp Montessori thay thế cho nhị nguyên luận trong học thuyết Descartes trong việc định hướng giáo dục trẻ em. Học thuyết Descartes coi trí óc là bộ phận riêng biệt, tách rời khỏi cơ thể. Điều này đặt câu hỏi về sự tương tác giữa 2 bộ phận cơ thể và trí óc - một vấn đề được chú ý từ phương diện triết học. Theo cách hiểu truyền thống, vận động là một phần của cơ thể thể chất, nhưng Montessori tạo ra đột phá bằng việc xếp lại vận động tình nguyện đóng vai trò trung gian giữa cơ thể và trí tuệ. Không chỉ tạo tiền đề cho sự phối hợp giữa trí tuệ và cơ thể, Bà Maria Montessori còn tạo thêm bước tiến thông qua việc khẳng định vận động là điều kiện cần để hình thành nhân cách, từ đó việc tự do vận động là một dạng tự do mà tất cả trẻ em cần có.

Ba giờ làm việc Montessori: Các hoạt động với giáo cụ tại Choco House

Giới thiệu


Trong thực tế, chỉ qua vận động, nhân cách mới được bộc lộ (Maria Montessori trong "The Absorbent Mind" (Trí tuệ nghiền ngẫm)). Chương trình học Montessori thành lập bởi bác sĩ và nhà giáo Mara Montessori từ năm 1907, được công nhận rộng rãi là phương pháp giáo dục mầm non hiệu quả và được nhiều tên tuổi như Larry Page và Sergey Brin, nhà sáng lập của Google.com, cùng với nhà sáng lập Amazon.com Jeff Bezos khẳng định là tiền đề tạo nên thành công trong sự nghiệp của họ.


Dù nhận được nhiều ủng hộ và nhận xét tích cực, chương trình Montessori vẫn chưa có chỗ đứng lớn trong giới học thuật, đặc biệt trong học thuyết giáo dục. Một phần là bởi vì "di sản" của giáo sư William Kilapatrick, cuốn sách "The Montessori System Examined," chỉ trích chương trình học Montessori. Lí luận chính trong cuốn sách chỉ ra rằng chương trình giảng dạy Montessori dựa vào lý thuyết tâm lý học lỗi thời và không đủ để chuẩn bị cho trẻ bước vào cuộc sống. Ông kết cuốn sách của mình với bình luận "những người đặt bà Montessori trong những nhà đóng góp vĩ đại cho học thuyết giáo dục chưa nhận biết đầy đủ. Thật khó để cho rằng bà Montessori có đóng góp cho học thuyết của chúng ta, thẳng thắn là không thể." (Kilpatrick, 1914, trang 65-66). Đến năm 1918, phương pháp Montessori mất dần chỗ đứng, đặc biệt ở Mỹ, và trong 40 năm tiếp theo khi góc nhìn truyền thống trong giới học thuật của Kilpatrick và một vài nhà nghiên cứu khác chiếm ưu thế. Phương pháp của bà gần như mất dấu trong các nghiên cứu khoa học (Lillard, 1972).


Nhưng từ năm 1960 trở đi, những nghiên cứu tâm lý mới đứng về phía học thuyết tâm lý của Montessori, và điều đó dấy lên sự quan tâm dành dành cho chương trình học này. Dù vậy, khi bị gián đoạn trong 40 năm, giới học thuật không thực sự mở lòng đón nhận phương pháp Montessori.


Điều này cần được thay đổi. Tôi tin rằng Montessori có thể góp phần quý giá vào học thuyết giáo dục, đặc biệt khái niệm về con trẻ, nhân cách, trí tuệ bẩm sinh, sự đồng điệu giữa trí tuệ và cơ thể. Để làm rõ giá trị triết học của chương trình Montessori, tôi mong đi sâu vào một khía cạnh bị bỏ quên trong học thuyết của bà - triết học vận động và cho thấy, để định hướng giáo dục cho trẻ em, triết học vận động có thể thay thế nhị nguyên luận trong học thuyết Descartes, sự thừa nhận trong triết học rằng trí tuệ và cơ thể là hai mảnh ghép khác biệt và tách rời không tương tác với nhau.


Nói một cách ngắn gọn theo cha đẻ của triết lý hiện đại, Rene Descartes, có hai nguyên thể trên thế giới này: tinh thần và vật chất (Descartes, 1912). Tinh thần là phi vật chất, phi vật thể, trong khi vật chất ở thái cực khác là vật thể. Vật chất, bao gồm cơ thể, thế giới, loài vật tuân theo định luật vật lý. Những hoạt động không sử dụng đến trí tuệ, như là tiêu hoá, thở, và co bóp của tim đều được coi là hoạt động không có lý trí. Theo lẽ này, con người bị tách ra khỏi thế giới vật chất bằng khả năng lý trí. Với Descartes, nhị nguyên luận giống như dải ngân hả làm việc giống nguyên lý hoạt động của đồng hồ bởi ông phản đối ý kiến cho rằng "bản năng con người khác biệt với máy móc" (Ryle, 1949, trang 20). Ông muốn lập nên hàng rào tách biệt giữa con người và thế giới vật chất. Dù vậy, Descartes cũng khẳng định rằng tuyến tùng (pineal gland) trong não của chúng ta tạo ra sự phối hợp giữa trí tuệ và cơ thể. Dù đây là lý luận trong học thuyết, các nghiên cứu thực tiễn chứng minh rằng tuyến tùng không có chức năng đó (Lavine, 1984).


Khi thuyết học của Descartes thách thức suy nghĩ chung về sự phối hợp giữa trí tuệ và cơ thể, học thuyết chi phối giới học thuật trong vòng 300 năm và cơ sở lý luận tách biệt tinh thần và cơ thể đã ảnh hưởng các nguyên lý khác, đặc biệt trong giáo dục. Giả dụ như sự đề cao trí thông minh và IQ trong chương trình giảng dạy là kết quả của thuyết nhị nguyên luận Descartes. Từ cuối thế kỉ 20 chứng kiến một sự đồng thuận trong suy nghĩ rằng con người là một thể thống nhất, chứ không tách biệt khỏi phần còn lại của cơ thể. Nhưng từ rất lâu trước khi thế giới từ chối đón nhận thuyết Descertes, Montessori đã phát triển lý thuyết toàn diện để lý giải sự đồng nhất giữa tính cách và cơ thể.


Phương pháp Montessori


Đầu tiên, có thể hơi lạ kì khi nói Montessori có góc nhìn triết học nổi bật, nếu so với thuyết Descartes, bà vận dụng phương pháp y học và tâm lý để hoàn thiện phương pháp và chương trình cũng không được vận dụng trong lĩnh vực triết học. Triết học thường bị chi phối bởi phương pháp Toán học logic như của Descartes và Russell. Mặc dù vậy, nhiều đột phá trong lĩnh vực triết học trong những thập kỷ gần đây của các nhà khoa học David Chalmers, Richard Dawkins và Steven Pinker đã sử dụng nghiên cứu thực nghiệm để phát triển góc nhìn triết học của mình. Trong những nhánh triết học tinh thần và triết học ngôn ngữ, kiến thức chuyên môn là yếu tố tiên quyết để phát triển góc nhìn triết học. Ví dụ như Steven Pinker nghi vấn thuyết "Phiến đá trắng" John Locke (The Blank Slate) với bằng chứng khoa học thần kinh. Tương tự, bằng chứng thực nghiệm được dùng trong triết học giáo dục - ví dụ như chủ nghĩa hành vi của B.F.Skinner và học thuyết đa thông minh của Howard Gardner.


Mặc dù kết quả y học của Montessori đã lỗi thời, những nghiên cứu y học gần đây đã ủng hộ cốt lõi trong phương pháp của bà là tính liên kết giữa tinh thần và cơ thể, tinh thần tiêu cực dẫn đến bệnh phát sinh trong cơ thể và ngược lại (Lemonick, 2003). Phần còn lại của bài viết sẽ giải thích tại sao vận động lại có vai trò quan trọng trong lý thuyết giáo dục của Montessori và tác động tiêu cực lên nhân cách của trẻ khi thiếu vắng vận động.


Cái loại vận động


Vận động hoặc hoạt động thể chất là cách Montessori kết nối tinh thần và cơ thể. Trong khi có rất nhiều loại vận động, vận động tự nguyện và hoạt động thể chất sử dụng khối cơ để hoạt động, tiếp nhận kiến thức là trọng tâm của Montessori. Bà thừa nhận góc nhìn Descartes rằng một vài vận động được thiết lập sẵn và không tự nguyện, bao gồm bài tiết nước bọt, thở, và tiêu hoá. Song song với vận động đó, có những vận động tự nguyện của các cơ quan nội tạng, thần kinh, giác quan, tay chân. Montessori nêu bật vai trò của tay và lưỡi trong hình thành tính cách (Montessori, 1966).


Vận động cơ thể liên hệ chặt chẽ với trí thông minh (ibid, trang 80), và phát triển các bộ phận cơ thể quan trọng như phát triển nhận biết giác quan nhìn và nghe nếu chúng ta muốn phát triển nhân cách trẻ. Vận dụng các giác quan nghe và nhìn để thu nhận kiến thức và tiếp nhận văn hoá, nhưng với bà Montessori, hình thành và phát triển tính cách quan trọng hơn cả bồi đắp kiến thức. Vì vậy, bà đảo lộn thứ tự quan trọng mà chúng ta gắn với sự phát triển bộ phận cơ thể. Trong chương trình giảng dạy hiện đại, chúng ta tập trung nhiều vào phát triển giác quan nghe và ít hơn vào hoạt động thể chất. Trong phương pháp Montessori, phát triển cái tôi và tính cách tốt cho trẻ hơn là phát triển giác quan.


Khái niệm của Montessori về cái tôi đa dạng, luôn chuyển động trong mối quan hệ phức tạp với cơ thể và tinh thần. Trong học thuyết của Descartes, tinh thần trí tuệ điều khiển cơ thể, và qua tuyến tùng, chúng chỉ huy cơ thể. Cái tôi là "hồn ma trong cỗ máy" và hình thành mối quan hệ một chiều với cơ thể. Nhưng với Montessori, tinh thần trí tuệ khởi động nhóm cơ để hoàn thành một hoạt động; hoạt động thể chất góp phần hình thành nên cái tôi tính cách. Đó là một mối quan hệ đa chiều giữa cơ thể và tinh thần trí tuệ để hình thành tính cách. Đây chính là sự khác biệt giữa triết lý giáo dục của Montessori và luồng

suy nghĩ khác. [... còn nữa]


Nguồn: Encyclopedia.com

0 comments

Địa chỉ: P01-03, Khu Văn Phòng Tầng 2, T6, Khu Đô Thị Times City, 458 Minh Khai, HN

 Điện thoại: 099 399 6456 (Hotline)

©2018 by Choco House

  • Facebook - White Circle
  • YouTube - White Circle
This site was designed with the
.com
website builder. Create your website today.
Start Now