Tài liệu Montessori: Triết học vận động của Montessori (Phần 2 - Hết)

Updated: Dec 25, 2018

Bài dịch "Triết học vận động của Montessori" được chuyển ngữ từ (Montessori's Philosophy of Movement) đăng trên tạp chí khoa học ứng dụng "Applied and social sciences magazines".

Bài viết được đăng trên Encyclopedia.com.

Choco House rất mong nhận được góp ý về bài dịch từ phụ huynh để nâng cao chất lượng bài viết.

Phân loại vận động


Trong chương trình giáo dục chính thống, sự phát triển của hoạt động vận động tự nguyện bị xếp sau giáo dục thể chất. Nhưng trong chương trình Montessori, một đứa trẻ không ngồi yên ở ghế cố gắng hoàn thành bài tập và tiếp thu hết thông tin mà cô giáo đưa ra. Thay vào đó, vận động là một phần thiết yếu của chương trình Montessori. Vai trò của vận động được thiết lập từ triết lý vận động của Montessori. 


Montessori không phân loại vận động là bài tập, giáo dục thể chất, hay trò chơi như triết lý Descarte vốn đặt vận động vào hoạt động máy móc và nằm ngoài trí tuệ. Thay vào đó, Montessori phân loại lại vận động. Theo bà Maria Montessori, việc đặt vận động vào khuôn bài tập và phớt lờ vai trò quan trọng của vận động trong việc phát triển tính cách và tinh thần trí tuệ là một cách nhìn "nghèo nàn". 


Một phần của cuộc sống học đường luôn đề cao vai trò của trí thông minh mà bỏ qua vai trò của vận động. Vận động luôn bị xếp trong hạng mục bài tập, giáo dục thể chất, hoặc trò chơi. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc xem nhẹ mối liên kết với trí tuệ tinh thần phát triển. (Montessori, 1967, p.136)


Việc Montessori làm để lấp chỗ trống trong giáo dục trẻ là giới thiệu thêm một phạm trù cho vận động. Đó không phải nhận định dựa trên nghiên cứu thực nghiệm mà dựa trên lý thuyết. Trong phương pháp Descarte, vận động có hạng mục - hoặc trong mục tinh thần trí tuệ hoặc vật chất. Montessori không phủ nhận rằng chuyển động không tự nguyện nằm trong hạng mục cơ thể, nhưng bà khẳng định vận động tự nguyện thì không. Vận động tự nguyện của tay chân được điều phối bởi cơ thể, cần thiết cho sự phát triển của trí tuệ, vận động cơ thể này nuôi dưỡng lý trí con người. Montessori nêu bật điều này trong nhiều bài viết của bà.


"Nếu một đứa trẻ đang lớn không thể sử dụng vận động của các cơ quan, sự phát triển của bé chậm lại, bé lỡ mất các mốc mục tiêu giống như khi bé mất đi khả năng nhìn và nghe. Hoạt động thể chất, một cách khác, có liên hệ mật thiết với tính cách của bé. Việc bé không hoàn thiện vận động của mình sẽ ảnh hưởng lớn đến bé. (Montessori, 1966, p.100)
Cuộc sống tinh thần của bất kì ai đối mặt nguy cơ khi khả năng của các nhóm cơ không thể phát huy." (Montessori, 1967, p.145)

Montessori coi vận động là cây cầu trung gian giữa cơ thể và tinh thần trí tuệ. Khi bà nhận ra sự quan trọng của lý trí trong việc phân biệt con người và loài vật. Bà cho rằng, chỉ vì loài vật và con người cùng vận động, điều đó không có nghĩa là vận động bị loại khỏi đặc tính riêng của loài người. Với một số loại vận động tự nguyện ảnh hưởng tới lý trí của con người, con người không thể phát triển trí tuệ nếu thiếu vận động này. Loài vật không có vận động tự nguyện như vậy. 


Giờ học bóng rổ tại Choco House

Không chỉ nhấn mạnh những loại vận động phân biệt con người khỏi loài vật, Montessori chỉ ra sự khác biệt rằng con người có tuổi thơ dài (1967, trang 60) và "một đứa trẻ không tự chăm sóc được cho bản thân trong một khoảng thời gian dài trong khi đó loài động vật có vú chỉ cần một khoảng thời gian ngắn sau khi sinh có thể đi, đứng, và tự tìm nước, và thông thạo ngôn ngữ riêng của giống loài" (1966, trang 30). Điều đó bởi vì loài vật bị chi phối bởi bản năng, trong khi con người có tự do định hướng bản thân và tính cách. Vì thế, trong phương pháp Montessori, có nhiều cách để phân biệt con người và loài vật. 


Nếu Descartes coi lý trí là đặc tính định hình con người, ông đã vội vã khi đặt hết các vật động vào "hạng mục" cơ học như máy móc, và ông không nhận ra rằng vận động liên hệ chặt chẽ với trí tuệ. Cách phân loại của ông không đủ để phân biệt ảnh hưởng của vận động tự nguyện và không tự nguyện. Những vận động không tự nguyện tự diễn ra trong cơ thể không thể đặt nền móng cho phẩm chất dũng cảm hay tự tin, nhưng vận động tự nguyện thì có. Như Montessori đã nêu, hoạt động thể chất không phải yếu tố tiên quyết với sức khỏe thể chất, nhưng chúng có thể thúc đẩy nhân cách tốt. Chúng ta nhìn thấy nhiều ví dụ học sinh trở nên tự tin và dũng cảm hơn thông qua chương trình rèn luyện như Outward Bound.


"Việc ghép vận động vào chức năng của cơ thể và bó hẹp vận động "thực vật" như hấp thụ thức ăn, thở, v.v.. là một sai lầm. Ở đây, vận động chỉ đơn giản được nhắc đến với chức năng phụ trợ chức năng của cơ thể trong khi thở, tiêu hóa, và lưu thông máu. Vận động, dù là một đặc điểm của động vật, có ảnh hưởng tới đời sống "thực vật". Chúng ta có thể nói rằng vận động tạo tiền đề, song hành, và theo sát mọi hành động của cơ thể, và thật sai lầm khi chỉ đánh giá vận động từ góc nhìn thể chất. Chúng ta nhìn thấy lợi ích từ việc tham gia chơi các môn thể thao. Hoạt động thể chất không chỉ có lợi cho sức khỏe thể chất mà còn truyền cảm hứng, sự dũng cảm, và tự tin. Vận động còn có ảnh hưởng trong nhân cách, lan tỏa hình tượng hướng tới, và nhiệt huyết ở những người xem (Montessori, 1966, trang 96). 

Bởi vì bà Montessori đã tái phân loại vận động và khẳng định vai trò cầu nối của vận động với cơ thể và trí tuệ, để có sự đồng nhất giữa hai thực thể. Có thể nói rằng hoạt động thể chất như ba lê, bắn cung, hay đua canô có thể xây dựng tính cách của một người. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta ý thức cảm tính rằng giáo dục nhân cách diễn ra trong thể thao và hoạt động thể chất khác, nhưng nó đi ngược lại với học thuyết Descartes, vốn coi vận động bản chất là hoạt động máy móc và không tạo ra giá trị phẩm chất. Bởi chúng ta không thấy máy móc sản sinh ra giá trị tình yêu và hi vọng. Dù vậy, nếu vận động không chỉ là quá trình thể chất nhưng còn là một phần của ý chí và trí tuệ, ta có thể thấy tính cách hình thành thông qua vận động. Điều này tương đồng với giáo dục nhân cách ngày nay với quan điểm rằng tính cách không thể được dạy dỗ qua bài giảng hay bài thuyết trình trên máy tính. Trong khi đề tài khác có thể được học thông qua trí tuệ, giáo dục nhân cách cần được truyền tải qua vận động. 


Từ đây, triết lí vận động của Montessori có thể được kéo dài từ khi trẻ chập chững biết đi, đến khi thiếu niên, và trưởng thành,  một chương trình học xuyến suốt để khơi dậy và nuôi dưỡng khả năng của học sinh trong việc kiểm soát môi trường và điều hướng thế giới của mình theo nguyện vọng và ý chí. Có thể lấy ví dụ như chương trình Outward Bound trong việc áp dụng phương pháp Montessori vào cuộc sống ở môi trường tự nhiên cho trẻ phát triển vận động (Lillard, 1972). Và chương trình giáo dục kết hợp ở Singapore sẽ lấy thêm căn cứ thuyết phục bằng triết lý vận động của Montessori. 


Tự do vận động 


"Con người cần xây dựng bản thân, và cuối cùng, làm chủ và điều hướng bản thân mình. Chúng ta sẽ thấy một đứa trẻ trong chuyển động không ngừng, từ đó bạn nhỏ dần phát triển mối liên hệ giữa hành động và tinh thần. Khi hoạt động của trẻ được kích thích bằng suy nghĩ, trẻ sẽ thôi thúc sự thống nhất trong suy nghĩ và hành động. Đó là mấu chốt của quá trình phát triển tính cách. Bởi vì điều này, khi ai cản trở vận động của trẻ cũng gây khó khăn cho hình thành tính cách của trẻ. Suy nghĩ khơi dậy hành động độc lập, và hành động theo mệnh lệnh của người khác, chuyển động sẽ không hòa nhịp với tinh thần. Cũng bởi nguyên nhân này, tính cách rất dễ bị ảnh hưởng bởi sự chênh lệch trong suy nghĩ và hành động, sự thiếu đồng nhất sẽ tác động xấu tới hành động. Đó là một yếu tố quan trọng cho tương lai của con người và cần được cân nhắc như nguyên tắc đầu tiên trong giáo dục gia đình và trường học" (Montessori, 1989, trang 74).

"Một mục tiêu tối quan trọng của  giáo dục và cuộc sống là một người có lý lẽ cần làm chủ và hoàn thiện công cụ vận động của mình để hành động của người đó không chỉ bị chỉ dẫn bởi phản ứng bản năng hay kích thích giác quan mà còn bởi lý lẽ" (Montessori, 1966, trang 102).

Đến đây, chúng ta chắc chắn được rằng một số loại vận động tự nguyện cần thiết cho sự phát triển nhân cách cá nhân. Nhưng làm chủ được chuyển động và có khả năng lý lẽ không đủ cho sự phát triển nhân cách của trẻ, bởi vẫn tồn tại những tác động cản trở sự phát triển nhân cách. Cả hai đều liên quan đến việc tương tác giữa lý lẽ và vận động. 


Đầu tiên là khi vận động bị kiểm soát bởi kích thích và phản ứng bản năng. Trong phương diện này, con người không khác mấy với loài động vật. Và đó là một nét đặc thù khi Montessori đưa ra luận điểm vận động của con người khác biệt với vận động của loài vật bởi vận động của con người được quyết định bởi lý lẽ. Với một loài vật, vận động là bản năng. Nếu chúng ta để hành động điều khiển bởi kích thích - phản ứng bên ngoài, lý lẽ của chúng ta bị "vứt bỏ". Vì vậy, để phát triển hết khả năng tiềm tàng, chúng ta cần phải để lý lẽ chỉ đường cho vận động. Nếu vận động bị tác động bởi kích thích - phản ứng với bên ngoài, như một đứa trẻ hư, điều đó tạo nên sự rối loạn, đứa trẻ nổi loạn, và hiếu động thái quá. 

Các bạn nhỏ Choco House trong buổi hoạt động ngoài trời

Còn có một vận động không mong muốn nữa. Đó là vận động khi trẻ thực hiện vận động theo ý muốn của người khác chứ không phải của mình. Thông qua những luật lệ và cấm đoán không cần thiết (ví dụ như đừng dọn đồ chơi của con, hay để người giúp việc làm điều đó), vận động của trẻ không được tự do mà bị quản thúc bởi mong muốn của người lớn. Thông qua việc nghe lời "mù quáng", những đứa trẻ không còn có cơ hội tự thực hiện các hoạt động của mình, chúng sẽ chỉ làm nó như chiếc máy và những vận động đấy không góp phần hình thành nhân cách. Vì vậy, chúng ta có một góc nhìn tập trung sự 

đấu tranh giữa chủ nghĩa gia trưởng áp đặt và tự do cho con trẻ. 


Lập trường tự do thường gắn với các dạng trừu tượng, như tự do ngôn luận và tự do tôn giáo, và chỉ thường được áp dụng cho người đã trưởng thành ở mức nào đó. Một nhà nghiên cứu tự do J.S.Mill đã đề cập trong "On Liberty" (1955) rằng trẻ con không được quyền tự do; nhưng trong phương pháp Montessori, tự do được gắn với việc thoải mái di chuyển cùng với việc định hướng thế giới theo mong muốn và ước nguyện của bản thân (Montessori, 1966). Hoàn toàn có thể nhìn nhận tự do vận động là cần thiết hơn cả những dạng tự do trừu tượng khác, một người có thể tranh luận rằng, trong một xã hội độc đoán, việc ép buộc và kìm hãm sự vận động để phát triển tính cách cũng gián đoạn việc đạt được các dạng tự do cao hơn. Đây cũng là một đề tài cần nhiều khám phá đi sâu hơn nữa. 


Tóm lại, Montessori đã đưa ra triết lý thay thế cho nhị nguyên luận của Descartes. Những đóng góp triết lý của bà nằm ở việc bà tái xếp loại vận động như cầu nối giữa cơ thể và trí tuệ và cho chúng ta thấy vận động tự nguyện là cần thiết cũng như không thể thiếu trong sự phát triển của trí tuệ và tính cách. Chúng ta có thể áp dụng triết lý vận động của bà để đẩy mạnh chương trình như Outward Bound, giáo dục thể chất, và chương trình giáo dục kết hợp. Việc hiểu và nắm được vì sao vận động giúp phát triển tính cách giúp chúng ta sẽ có thể nuôi dưỡng nhiều tài năng như Jeff Bezoses, Larry Pages và Sergey Brins hơn. 


Nguồn: Encyclopedia.com

0 comments

Địa chỉ: P01-03, Khu Văn Phòng Tầng 2, T6, Khu Đô Thị Times City, 458 Minh Khai, HN

 Điện thoại: 099 399 6456 (Hotline)

©2018 by Choco House

  • Facebook - White Circle
  • YouTube - White Circle
This site was designed with the
.com
website builder. Create your website today.
Start Now