Vai trò giáo viên trong phương pháp Waldorf, Montessori, Reggio Emilia

Bài dịch được chuyển ngữ từ bài viết tiếng Anh "Three Approaches from Europe: Waldorf, Montessori, and Reggio Emilia" trên Early Childhood Research & Practice.


Vai trò của giáo viên


Vai trò của giáo viên trong các phương pháp đều có điểm chung ở mục tiêu trở thành người nuôi dưỡng, đối tác, và chỉ dẫn của trẻ. Họ dựa trên môi trường được chuẩn bị kĩ lưỡng và tinh tế thẩm mỹ như một công cụ giáo dục và nói lên chương trình học cũng như sự tôn trọng dành cho trẻ. Cộng tác với phụ huynh rất được coi trọng trong ba cách tiếp cận. Dù vậy, cách nhìn khác nhau trong cách tiếp thu tự nhiên của trẻ mang đến vai trò khác nhau của cô giáo trong lớp học. Coulter (1991) trình bày một lý luận thú vị rằng giáo dục Montessori và Waldorf giống như "sự đối xứng đảo ngược," xuất phát từ giải pháp giải quyết các vấn đề trẻ gặp phải trong bối cảnh lịch sử nhất định. Trong cả 3 cách tiếp cận, vai trò của giáo viên thay đổi với trẻ theo từng độ tuổi; với trẻ nhỏ giáo viên sẽ chăm sóc nhiều hơn. 


Giáo viên Waldorf thường có vai trò "nghệ sĩ" trong lớp học, bởi cô giáo hoặc thầy giáo sẽ hướng dẫn và làm mẫu các hoạt động nhóm kết hợp kiến thức cùng khả năng nghệ thuật và duy linh đề cao tinh thần. Giáo viên Waldorf là nhà lãnh đạo đạo đức của lớp, nỗ lực mang đến không khí lớp học gần gũi với sự cân bằng cùng các chủ đề gợi mở sự quan tâm đến cộng đồng, thiên nhiên, và sự sống. Giáo viên cần một lớp học mà ở đó trẻ có thể góp vào suy nghĩ, cảm xúc,  ý chí, bất kể cá tính và tính tình khác biệt (Durach, 1998). Màu sắc và tài liệu học tập tự nhiên cùng với các dụng cụ được chọn lựa kĩ (ví dụ như búp bê hoặc đồ chơi làm bằng tay với chi tiết tối giản để trẻ phát huy trí tưởng tượng) là một phần của mái ấm và tính thẩm mỹ của phương pháp Waldorf (Schwartz, 1996). 


Ví dụ về nguyên liệu trong phương pháp Waldorf có thể được tìm thấy ở: https://waldorfshop.net/collections/learning-tools-supplies (Trang web Choco House gợi ý). Cô giáo khuyến khích sự hiếu kỳ của trẻ nhỏ, niềm tin vào điều tốt đẹp, và tình yêu cái đẹp. Cô giáo ít biểu lộ hơn trong những lớp học cho trẻ nhỏ và chỉ dẫn và dạy con nhiều hơn về bài học đạo đức vào bậc tiểu học và trung học. Ở lớp mầm non, giáo viên tinh tế hướng dẫn trẻ và nắm được tất cả tình hình của cả lớp (Schwatz 1996). 


Giáo viên Montessori đóng vai trò là người chỉ dẫn kín đáo trong lớp học khi cá nhân trẻ hoặc trong các nhóm nhỏ tham gia hoạt động do trẻ chọn. Dựa trên sự quan sát kĩ càng và hệ thống, giáo viên tạo ra một bầu không khí tĩnh lặng hiệu quả khi trẻ tự học trong giờ học tập trung kéo dài và chỉ ngắt quãng ngắn để tổ chức lại hoạt động (Oppenheimer, 1999). Mục tiêu của cô giáo là giúp đỡ và khuyến khích trẻ, cho phép trẻ phát triển sự tự tin và tính kỉ luật từ bên trong, vì vậy giáo viên hạn chế sự can thiệp của mình. Cắt ngang mạch tập trung của trẻ khi thực hiện hoạt động có mục đích cũng đồng nghĩa với việc cắt ngang đà làm việc, thực hiện đam mê, và dòng suy nghĩ của trẻ (Greenwald, 1999). Trong những năm học mầm non, cô giáo giúp trẻ đến gần với khám phá giác quan và hoạt động thực tế và để cho sự hiếu kì và nhạy cảm của trẻ chọn lựa những gì trẻ muốn học và cần học. Với trẻ nhỏ hơn trong từng bậc, giáo viên sẽ chủ động hơn, hướng dẫn sử dụng các nguyên liệu và thực hiện hoạt động dựa trên sự đánh giá về nhu cầu của trẻ. 

Cô giáo Montessori ở lớp học Choco House

Lớp học Montesori cung cấp một không gian thẩm mỹ, ngăn nắp, được sắp xếp với môi trường và nguyên liệu để trẻ có thể tự nhiên tham gia hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm (Xem thêm tại:  http://www.montessori-namta.org hoặc video hay slide dành cho phụ huynh từ Tổ chức giáo viên Montessori Bắc Mỹ (North American Montessori Teacher's Association). Sách, đồ chơi, và nguyên liệu làm từ tự nhiên với chất lượng cao. Sách mang đến hình ảnh thế giới thực một cách đẹp đẽ, đưa con vào thế giới diệu kì cho khi lên 5 hoặc 6 tuổi (xem danh sách sách tại:  http://www.michaelolaf.net). Trẻ phát triển theo nhịp độ của mình với khả năng riêng. Cộng đồng trường bao gồm phụ huynh phố hợp để trẻ phát triển thể chất, tinh thần, cảm xúc và tinh thần, làm nền móng cho giáo dục hòa bình (chấp nhận và hòa hợp với mọi người cũng như môi trường thiên nhiên). 


Giáo viên Reggio Emilia đóng vai trò cân bằng nghệ thuật trong sự chú ý và tập trung của trẻ (Edwards, 1998). Nhờ vào khả năng lắng nghe, quan sát và ghi chép, cũng như nhìn nhận đánh giá, giáo viên Reggio là nguồn tài nguyên và người chỉ dẫn trẻ (Rinaldi, 2001b). Giáo viên làm việc theo cặp, cộng tác, và dẫn dắt lẫn nhau trong hệ thống. Giáo viên bổ sung được đào tạo trong các bộ môn nghệ thuật hình ảnh làm việc với giáo viên và trẻ để nuôi dưỡng khả năng biểu lộ qua hệ thống hình tượng và phương tiện.


Giáo viên tổ chức môi trường nhiều cơ hội và sự kích thích trẻ tham gia khám phá và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, đặc biệt trong các nhóm nhỏ, khi sự hợp tác và tranh cãi kết hợp. Cô giáo đóng vai trò người ghi chép cho trẻ, giúp trẻ tự nhìn nhận từ ngữ hoặc hành động của mình để học tập tiến bộ (Project Zero & Reggio Children, Italy, 2001). Giáo viên hướng dẫn sử dụng dụng cụ và nguyên liệu học tập khi cần, giúp trẻ tìm kiếm tài nguyên học tập, và giống "chiếc giàn giáo" - có lúc cô tham gia trong nhóm trẻ, có lúc cô đứng ngoài quan sát (Ví dụ về dự án "Lâu đài" (Castle project). Không gian nhã nhặn của phương pháp Reggio Emilia thúc đẩy phát triển và trao đổi mối quan hệ với sự cởi mở, hài hòa trong môi trường sáng và nhẹ nhàng. Bầu không khí vui vẻ và vui đùa. Trường học và cộng đồng xung quanh chào đón trẻ đến khám phá văn hóa và tham gia dân chủ. 


Đánh giá và nghiên cứu


Trong cả ba phương pháp, trẻ được đánh gia dựa trên cách khác không phải bài kiểm tra và việc lên lớp. Thay vào đó, phụ huynh tham gia buổi cung cấp thông tin đầy đủ về hoạt động thường ngày của trẻ, sự tiến bộ, sản phẩm và buổi biểu diễn. 


Trong phương pháp Reggio Emilia (Gandini & Edwards, 2001), giáo viên chuẩn bị những quyển vở ghi nhớ để ghi lại trải nghiệm của trẻ dưới 3 tuổi xuyên suốt năm tháng sơ sinh. Nghiên cứu quá trình (đánh giá sự hình thành) có vai trò quan trọng vào việc hoàn thiện chương trình và quản lý chất lượng trong cả 3 phương pháp. Ví dụ là cách thức ghi tài liệu (Katz & Chard, 1996; Oken-Wright, 2001) giúp giáo viên lắng nghe và quan sát trẻ cùng những người trẻ làm việc cùng, từ đó đề ra quyết định chương trình học và phát triển năng lực giáo viên bằng việc nhìn nhận (Gandini & Goldhaber, 2001). Việc ghi chép giúp giáo viên theo sát và nhận thấy cách một nhóm trẻ phát triển ý tưởng, lý luận, và đúc kết (Project Zero & Reggio Children, Italy, 2001). 


Nghiên cứu kết quả học tập của trẻ không phải là mục tiêu của ba phương pháp. Với Waldorf, sự chứng nhận của phụ huynh và học sinh được tập hợp từ bằng chứng về tính hiệu quả (ví dụ Learning to Learn từ AWSNA) và sự sáng tạo được lĩnh hội (Ogletree 1996). Người quản lý của phương pháp Reggio Emilia phỏng vấn phụ huynh và khảo sát để thu thập thông tin về chương trình (Fontanesi, Gialdini & Sconcini, 1998). Thông tin từ buổi phỏng vấn với phụ huynh ở trung tâm Model Early Learning ở Washington, DC, được tập hợp bởi Lewin (1998, trang 354-356). Dù vậy, các nhà giáo Reggio coi hình thức ghi chép tài liệu như một công cụ để nhìn nhận dân chủ hơn là cách đánh giá (Dahlberg, Moss, & Pence, 1999; Gandini & Goldhaber, 2001; Oken-Wright, 2001; Rinaldi, 2001b).


Dù cả ba phương pháp tương tác nhiều với giáo dục công, cuộc đối thoại đề ra sự tập trung vào cách đúng đắn để đánh giá phương pháp. Tổ chức Montessori của Mỹ (American Montessori Association) phát hành tài liệu "Learning and Assessment" (Học tập và đánh giá) đề xuất phương thức đánh giá trong các lớp học ở Mỹ dựa trên (tập bài cũ, thuyết trình, dự án đa phương tiện) để theo sát khả năng trẻ liên kết vấn đề, tư duy phản biện, sử dụng thông tin một cách có ý nghĩa (http://www.amshq.org). Phương pháp Montessori là phương pháp áp dụng nghiên cứu thực nghiệm về kết quả học tập của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự hiệu quả của phương pháp Montessori và cung cấp cách nhìn chuyên sâu về hiệu quả của phương pháp trong khả năng đọc viết, toác học, và động lực học (Chattin-McNichols, 1992a; Loeffler, 1992; Miller & Bizzell, 1983; Takacs, 1993; Haines, 2000). Tổ chức Montessori của Mỹ (American Montessori Association) tài trợ cho mạng lưới nghiên cứu giáo viên (Teacher's Research Network) để thúc đẩy giáo viên hoàn thiện cách áp dụng phương pháp trong lớp (http://www.amshq.org). Những hoạt động bao gồm đào tạo giáo viên làm việc với nhà nghiên cứu, đọc các nghiên cứu, lên khung câu hỏi sử dụng phương pháp định tính và định lượng, nghiên cứu so sánh các phương pháp của trường khác nhau. Tổ chức cũng tài trợ giải thưởng luận văn để khuyến khích nghiên cứu về phương pháp giáo dục Montessori. 


Cộng đồng nghiên cứu phân biệt các cách nghiên cứu dựa vào mục đích nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu được ưu tiên trong phương pháp Reggio Emilia đẩy mạnh nhìn nhận và đánh giá cũng như hoàn thiện chương trình thông qua phương pháp tổng hợp để giúp nhà giáo hiểu hơn về bối cảnh của vấn đề, đánh giá những điều cần, và phản ứng của các bên liên quan, phân tích điều gì làm được và chưa làm được. Mặc dù các nghiên cứu giúp nhà giáo hoàn thiện chương trình học, chúng không cho phép phụ huynh hay những người quan tâm hiểu về kết quả và đánh giá sự tác động.  Chúng ta có nghiên cứu về phương pháp Montessori, nhiều nhà hoạch định vẫn mong muốn có nghiên cứu về Waldorf và Reggio Emilia để đánh gia chất lượng cũng như kết quả trong việc học tập của trẻ dựa trên tiêu chuẩn nhất định. 


Như đã nhắc tới phía trên, nhà giáo dục vẫn đặt câu hỏi về giá trị và tính hiệu quả của các nghiên cứu về phương pháp Reggio Emilia (Dahlberg, Moss, & Pence, 1999). Nhà nghiên cứu giáo dục ngày nay cũng đầu tư hơn để có nghiên cứu định tính và định lượng, bao gồm phỏng vấn, quan sát, nhóm tập trung, khảo sát cùng kỹ thuật kể chuyện và nhân chủng học, cùng với cách tiếp cận mới để đánh giá sự phát triển của trẻ. Các phương pháp trên được dùng để tìm hiểu một lớp học, trẻ, và gia đình từ đó cung cấp thông tin về sự hiệu quả của các phương pháp, phân tích thế mạnh và điểm yếu, cũng như giải thích cách thức và tại sao trẻ phát triển và phụ huynh ủng hộ 3 phương pháp giáo dục mà chúng ta đã bàn tới.


Nguồn: Early Childhood Research and Practice

0 comments